Người nước ngoài có thể sở hữu nhà đến 99 năm

Nếu dự án Luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt được thực thi, thời gian sở hữu nhà của người nước ngoài có thể tăng gấp đôi từ 50 năm lên 99 năm.

Người nước ngoài có thể sở hữu nhà đến 99 năm

Ngày 2/8, Thường trực Chính phủ đã thảo luận về dự án Luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt (gọi tắt là đặc khu). Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhất trí rằng, để lôi kéo nguồn lực đầu tư vào các đặc khu kinh tế này, việc tạo một khung thể chế nổi trội hơn các luật hiện hành, giảm bớt việc áp dụng điều kiện đầu tư kinh doanh tại đặc khu… là cần thiết.

Về chính sách sử dụng đất đai, Thủ tướng đề nghị chỉnh lý dự thảo theo hướng tăng thời hạn được cho thuê đất, giao đất, sử dụng đất. Cũng theo dự thảo, người nước ngoài sẽ được phép sở hữu nhà ở tại các dự án đến 99 năm, cho phép thế chấp tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng nước ngoài, phù hợp với Hiến pháp năm 2013.

Như vậy, nếu dự luật này được thực thi, thời gian sở hữu nhà của người nước ngoài sẽ được gia tăng gấp đôi (quy định giai đoạn này là 50 năm).

Cùng với đó, lãnh đạo Chính phủ giao Bộ KH&ĐT cập nhật thông báo mới nhất về đặc khu để có hiệu quả thế so sánh, do đặc khu nếu không có nhà đầu tư thì khó thành công nên trước hết cần Để ý đến những vấn đề về các nhà đầu tư chiến lược. “Khi xây dựng cần đánh giá tác động, lợi người lợi ta là cái gì, trước mắt, lâu dài là gì, không được chỉ nhìn vào mặt bất cập rồi bàn lùi”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Việt Nam hiện có 18 đặc khu kinh tế, 325 khu công nghiệp với những chính sách khuyến mãi khác nhau. Cuối năm 2016, Chính phủ đã chọn lựa thành lập thêm 3 đặc khu kinh tế, gồm Bắc Vân Phong (Khánh Hòa), Vân Đồn (Quảng Ninh) và Phú Quốc (Kiên Giang). Đây được kỳ vọng sẽ hình thành “giấc mơ về đặc khu kinh tế” của Việt Nam trong tương lai.

7 điều quan trọng dành cho người nước ngoài mua nhà tại Việt Nam

Điều 1: người nước ngoài cần chứng minh mình có đủ điều kiện để sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo chuẩn mực của pháp luật. Theo Luật nhà ở, người nước ngoài chỉ cần “nhập cảnh hợp pháp” vào Việt Nam là đã có thể sở hữu nhà ở. Do vậy, người nước ngoài cần chứng minh “tính hợp pháp” cho việc lưu trú của mình tại Việt Nam.

Điều 2: người nước ngoài cần chứng minh nguồn tài chính mua nhà một biện pháp rõ nét để thuận lợi hơn trong các việc rút vốn về sau. Do đó, người nước ngoài cần mở một tài khoản tại một bank ở Việt Nam, chuyển tiền từ nước ngoài vào tài khoản này, và trả tiền mua nhà từ tài khoản. Nếu là người nước ngoài làm việc hay kinh doanh tại Việt Nam, cũng nên lưu giữ những chứng từ chứng minh nguồn lương để mua nhà.

Điều 3: người nước ngoài cũng cần nghiên cứu những dự án nào họ được phép sở hữu, chỗ nào không được phép, để tránh rủi ro về sau. Lưu ý rằng họ chỉ được phép mua nhà từ các dự án cải cách và phát triển nhà ở, tức từ khu dân cư mới hình thành, không được sở hữu nhà trong các khu dân cư hiện hữu. Việc kiểm tra này dễ thực hiện với sự giải thích từ các đơn vị giải thích bất động sản có danh tiếng quốc tế như Savills, Collier…

Điều 4: đến giai đoạn ký kết hợp đồng, người nước ngoài cần lưu ý về điều kiện để chủ đầu tư có thể ký hợp đồng mua bán nhà với người mua để bảo đảm rằng giao dịch hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Người nước ngoài cần bảo đảm chủ đầu tư ký hợp đồng mua bán nhà với mình tuân thủ đúng với mẫu đã đăng ký với cơ quan nhà nước.

Điều 5: việc thực hiện hợp đồng với chủ đầu tư tại Việt Nam có thể không giống với tập quán giao dịch tại nước của người nước ngoài, giả sử chủ đầu tư ở Việt Nam thường không chuẩn mực họ có nghĩa vụ phải kể người mua nhà thanh toán, khác với tập quán giao dịch ở một số nước. Điều này có thể đưa đến người mua nhà chậm thanh toán, và có thể bị phạt, chấm dứt hợp đồng theo như chuẩn mực trong hợp đồng. Do vậy, người mua nhà nước ngoài cần lưu ý một số khác biệt trong giao dịch mua bán. Người nước ngoài có thể thuê luật sư chuyên môn phù hợp để vượt qua các khác biệt, khó khăn này.

Điều 6: theo Luật Nhà ở, người nước ngoài sở hữu nhà ở nhưng vẫn có đầy đủ các quyền như: cho thuê, tặng cho, góp vốn, để thừa kế… đối với căn nhà. Tuy vậy, cần lưu ý để thực hiện được các quyền này, chủ sở hữu phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà. Do vậy cần chuẩn mực rõ nghĩa vụ xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà của bên bán nhà. Ngoài ra, khi thuê nhà, người nước ngoài sở hữu nhà phải đăng ký hợp đồng thuê với chính quyền địa phương (cơ quan quản lý nhà cấp huyện), và thực hiện kê khai thuế lương đối với phần tiền thuê thì lương còn lại mới được xem là lương hợp pháp. Cũng như, người lưu trú trong nhà cần phải đăng ký tạm trú, tạm vắng với chính quyền địa phương. Hiện nay, cũng chưa rõ việc đăng ký này sẽ thực hiện chuẩn xác làm sao đối với người nước ngoài, đối với chủ sở hữu nhà là người nước ngoài. Một số người nước ngoài băn khoăn rằng nếu họ không liên tiếp sinh sống ở Việt Nam thì thực hiện các nghĩa vụ này như thế nào? Việc này cũng phát triển thành thuận lợi hơn nếu họ thuê những đơn vị quản lý bất động sản thay cho mặt họ quản lý căn nhà, và thay cho mặt họ thực hiện các thủ tục hành chính có liên quan.

Điều 7: nếu không còn muốn sở hữu căn nhà nữa thì người nước ngoài sẽ khiến như thế nào? Họ có thể bán lại cho người nước ngoài khác (đủ điều kiện) hay người Việt Nam? Hiện nay, cũng chưa có chuẩn mực rõ nét về thủ tục để họ chuyển tiền bán nhà ra nước ngoài như thế nào. Tuy nhiên, nếu họ chứng minh được nguồn gốc hợp pháp, đã nộp thuế đầy đủ thì Nhà nước phải công nhận và cho phép chuyển ra nước ngoài.

Trên đây, Gia Khánh đã cung cấp một số thông báo và chuẩn mực về sở hữu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam.

Tìm hiểu thêm: